Nuôi trồng – Kỹ thuật nuôi trông  »  Kĩ thuật nuôi thủy-hải-sản   »   Kỹ Thuật Nuôi Cá Dứa

Kỹ Thuật Nuôi Cá Dứa

Cá Dứa (còn gọi là cá Tra bần), có tên khoa học là Pangasius kunyit, thuộc họ cá Tra (Pangasidae); là loài cá nhiệt đới, phân bố rộng ở châu Á và di trú ở sông Mêkông với mục đích sinh sản, khi cá bắt đầu lớn thì di chuyển về vùng cửa sông để sinh sống.

Thường chia làm 02 nhóm:

– Nhóm tập trung ở Lào và di chuyển lên thượng lưu sông Mêkông vào tháng 4-5 để sinh sản;

– Nhóm di chuyển về hạ lưu đẻ trứng ở Campuchia vào khoảng tháng 5-8, đến tháng 9-10 cá con bắt đầu di chuyển dần ra vùng cưả sông giáp biển để sinh sống và tăng trưởng. Thời gian này, ngoài thức ăn chính là động vật phù du cá Dưá còn ăn các loại trái chín cuả các loài cây vùng ngập mặn như: trái mắm, trái bần ổi…nên còn có tên là cá Tra bần. Trong ao nuôi, nó có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn, kể cả các loại thức ăn bắt buộc như: mùn bã hữu cơ, cám, rau, thức ăn hỗn hợp, động vật đáy. Một điều khá đặc biệt, cá Dưá không có hiện tượng bị “chai”, tức là không bị còi; mặc dù thiếu thức ăn trong 1 thời gian dài, trọng lượng cơ thể nhỏ, nhưng khi cho ăn đầy đủ trở lại cá vẫn sinh trưởng bình thường.

Lúc trưởng thành, sau khi đã đạt kích thước nhất định, cá Dưá quay trở lại vùng sông nước ngọt và di cư ngược dòng tìm nơi sinh sản. Đây cũng là thời kỳ cao điểm các ngư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long vào muà đánh bắt cá Dưá, lúc này cá trưởng thành có thể nặng từ 6-20kg.

Đặc thù cuả cá Dưá là thịt trắng hồng, ít mỡ, thịt săn chắc thơm ngọt và không tanh nên rất được người dân Nam bộ ưa chuộng. Trong các bưã cơm cuả các cư dân vùng sông nước thường có món canh chua cá Dưá nấu với bần chua hoặc cá Dưá kho nồi đất ăn với các loại rau hái ở trong vườn nhà hoặc ven sông. Còn trong các nhà hàng thì cá Dưá lại là món ăn đặc sản do nó là loại cá đánh bắt trong tự nhiên và đánh bắt được rất ít. Gần đây, trên thị trường đã xuất hiện 01 loại đặc sản – khô cá Dưá – nhất là sản phẩm được sản xuất tại huyện Cần Giờ, TP.HCM, rất hấp dẫn khách du lịch khi được chiên dòn ăn kèm với cơm vắt và một ít đồ chua.

Tuy nhiên, đa số nguồn nguyên liệu để chế biến khô đều từ khai thác tự nhiên nên không đủ cung cấp cho nhu cầu cuả thị trường, từ đó giá bán 1 kg khô tăng liên tục (đến thời điểm tháng 8/2010 đã là 220.000đ/kg) và giá 01 kg cá tươi là 60.000đ/kg.

Xuất phát từ nhu cầu đó, Công ty TNHH một thành viên Thủy sản Minh Chánh vào năm 2008 đã sản xuất thành công giống cá Dưá và đã tiến hành nuôi trong bè ở môi trường nước ngọt tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang; sau đó nuôi thử nghiệm trong ao đất ở điều kiện môi trường nước lợ tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh năm 2009. Sau khi đúc kết kinh nghiệm từ những thử nghiệm đã thành công, doanh nghiệp này đã mạnh dạn giới thiệu và quảng bá rộng cho nhiều tỉnh thành phiá Nam (trong đó có thành phố Hồ Chí Minh)

Nhằm thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cho các vùng nước lợ (Nhà Bè, Cần Giờ) khi mà các mô hình nuôi tôm đang gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh hoặc do các ao bị ô nhiễm hữu cơ, đang bị bỏ hoang hay nuôi những loài thủy sản có giá trị kinh tế thấp; đồng thời cũng nhằm đa dạng hoá đối tượng thủy sản ứng dụng vào sản xuất cho các xã đang xây dựng nông thôn mới, Trung tâm Khuyến nông TP.HCM đã đầu tư 02 mô hình nuôi cá Dưá ở xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè và 02 mô hình ở xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ nhằm tìm ra 01 quy trình nuôi ổn định cho năng suất cao và có hiệu quả kinh tế.

Hiện trạng:

1/ Mô hình nuôi ở Hiệp Phước: theo báo cáo cuả Trạm Khuyến nông Nhà Bè;

– Diện tích: 1,1 ha (02 ao); độ mặn dao động từ 2-14‰

– Thời gian nuôi: 10 tháng (từ tháng 11/2009 đến 8/2010)

– Giống: được mua cuả Cty TNHH MTV Minh Chánh có kích cỡ 2,5-3cm; thả nuôi với mật độ 4con/m2.

– Thức ăn: thức ăn viên công nghiệp Hà Lan Aquafeed (Công ty thức ăn chăn nuôi Vạn Sanh) có độ đạm 18-25%; hệ số thức ăn (FCR) 1,7:1.

– Tỷ lệ sống: 70%

– Thu hoạch: phân đàn lớn, cỡ cá 400g chiếm 15%, cỡ cá 500g chiếm 25%, cỡ 600-1.000g chiếm 60%; sản lượng ước tính: 15.400 kg

– Lợi nhuận: với giá bán 30.000đ/kg, lãi 121.410.000đ; tỷ suất lợi nhuận 35,64%.

CaDua01

Điểm nuôi thử nghiệm ở Hiệp Phước

CaDua02

Cá thu hoạch được ở Hiệp Phước

       2/ Mô hình nuôi ở Lý Nhơn: theo báo cáo cuả Trạm Khuyến nông Cần Giờ;

– Diện tích: 1 ha (02 ao); độ mặn dao động từ 3-25‰.

– Thời gian nuôi: 10 tháng (từ tháng 11/2009 – 8/2010).

CADua03

 Điểm nuôi thử nghiệm ở Lý Nhơn

CaDua04

Cá thu hoạch được ở Lý Nhơn

– Giống: mua cuả Cty TNHH MTV Minh Chánh, có kích cỡ 5-7cm. Mật độ thả nuôi: 1 con/2 m2.

– Thức ăn: dùng thức ăn cuả Công ty TNHH Lái Thiêu có độ đạm từ 25-30%. Hệ số thức ăn: 1,2:1

– Tỷ lệ sống: 56%

– Thu hoạch: cỡ cá đồng đều, ngoại hình đẹp, trọng lượng trung bình >1kg/con; sản lượng ước tính 2.800 kg

– Lợi nhuận: với giá bán 42.000 đ/kg, lãi 60.600.000 đ.

Đánh giá: So sánh 02 mô hình nuôi, ta thấy:

– Về môi trường: độ mặn thích hợp cho việc nuôi cá Dưá < 25‰, điển hình cá thu hoạch ở Lý Nhơn (3-25‰) có hình thái đẹp và đặc trưng, đồng thời chất lượng thịt cá cao hơn ở Hiệp Phước (2-14‰).

– Về mật độ: nếu mật độ cao sẽ cho cỡ cá thu hoạch không đồng đều; ngoài ra, cá Dưá có bóng hơi kín nên cần lượng oxy cao hơn cá Tra, cá Basa nên ở Hiệp Phước vào ban đêm phải tăng cường quạt nước để cung cấp thêm oxy.

– Về tỷ lệ sống: khi mua cá giống ở An Giang (xa ao nuôi), do cá quá lớn nên gai đã đâm thủng bao chưá, mất oxy làm một số cá yếu đi và chết trong quá trình nuôi, dẫn đến tỷ lệ sống ở Lý Nhơn chỉ đạt 56%.

– Về thức ăn: Sử dụng thức ăn có độ đạm cao sẽ cho hệ số thức ăn thấp và cá mau lớn (Lý Nhơn là 1,2:1 và kích thước cá lớn hơn, Hiệp Phước 1,7:1) điều này cũng phù hợp với khuyến cáo cuả Cty Minh Chánh.

– Về chi phí: do thả với mật độ thưa nên ở Lý Nhơn, các loại chi phí như: nhân công, nhiên liệu, thuốc… đều thấp hơn ở Hiệp Phước.

– Về chất lượng thịt cá: các cơ sở chế biến khô cá Dưá ở Cần Giờ chưa mặn mà với cá nuôi vì chất lượng cá khô làm ra không ngon bằng cá đánh bắt tự nhiên, họ chỉ thu mua với số lượng hạn chế khi thiếu nguyên liệu chế biến; nếu mua với số lượng lớn thì cá phải đạt trọng lượng từ 1,2kg/con trở lên.

Kết luận:

1/ Để có thể tiêu thụ dễ và có giá trị cao, cá phải nuôi với thời gian tối thiểu 12 tháng và trọng lượng cá phải đạt 1,2kg trở lên; như vậy, nuôi cá Dưá không thể nuôi xen canh với nuôi tôm trong cùng 1 năm. Cơ quan quản lý ngành và điạ phương nên khuyến cáo muà vụ như sau:

Sau 2-3 vụ nuôi tôm, nên để ao “nghỉ” bằng hình thức nuôi 1 vụ cá Dưá.

2/ Chỉ nên thả nuôi với mật độ từ 1-2 con/m2.

3/ Thời điểm thả nuôi: nên thả khi bắt đầu muà mưa, đến khi cá trưởng thành đã vào muà nắng, độ mặn cao sẽ giúp hình dáng cá đẹp và chất lượng thịt cá ngon.

4/ Khi vận chuyển cá giống ở xa thì nên chọn cỡ giống 2-3cm để hạn chế hao hụt. Nếu chủ động được nguồn giống tại chỗ là tốt nhất; chọn 01 ao để ương cho cá đạt kích cỡ 12-15cm rồi sang ra ao khác cho đúng mật độ như đã nêu.

5/ Trước khi thu hoạch 15 ngày phải giảm cho ăn từ từ; còn cách ngày thu hoạch 3 ngày thì ngưng cho ăn để cá giảm bớt lượng mỡ trong cơ thể và thịt cá không hôi.

Cá Dưá là một đối tượng thủy sản nuôi có tiềm năng kinh tế, có thể chọn nó để nuôi luân canh với nuôi tôm nhưng phải tuân thủ đúng quy trình nuôi và các kết luận nêu trên thì mới có hiệu quả.

Nguồn: Sưu tầm

Thảo luận cho bài: Kỹ Thuật Nuôi Cá Dứa