Nuôi trồng – Kỹ thuật nuôi trồng  »  Kĩ thuật chăm sóc vật nuôiKĩ thuật nuôi trồng, chăm sóc   »   Thức Ăn Hỗn Hợp Dành Cho Vịt – Phần 1

Thức Ăn Hỗn Hợp Dành Cho Vịt – Phần 1

Chế độ thức ăn để nuôi vịt cần có đủ yêu cầu sau: Thức ăn năng lượng, thức ăn protein, thức ăn khoáng, thức ăn vitamin. Bài viết sau sẽ giúp bà con có được công thức và tỉ lệ phối trộn hợp lý

1. Thức ăn năng lượng

Còn gọi là thức ăn carohydrat, gồm các loại ngũ cốc và sản xuất phụ phẩm của chúng, có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới 18%.

Trung bình thức ăn có chứa 12% protein thô. 75-80% lượng protein của nhóm thức ăn này chất lượng không cao vì thiếu lizin, metionin và triptophan. Liazin là axit amin hạn chế đầu tiên, do đó có thể thay thế thức ăn này bằng thức ăn khác không làm tăng và giảm đáng kể chất lượng protein của khẩu phần.

Hàm lượng chất béo trung bình của loại thức ăn này là 2-5%. Tuy nhiên cũng có một số sản phẩm phụ như cám lụa (của lúa) chứa 23% dầu. Chất béo trong thức ăn cơ sở  phần lớn được tạo thành từ axit béo không no.

Thức ăn loại này giàu photpho, nhưng nghèo canxi. Theo ước tính hai phần ba khối lượng thức ăn là carbohydrat, khả năng tiêu hoá khoảng 95%. Những loại thức ăn thường được sử dụng gồm các hoà thảo như: thóc, ngô, kê, cao lương…và các sản phẩm phụ của chúng như cám, tấm…

 + Thóc

Ở nước ta, thóc là nguồn lượng thực chính được sử dụng rộng rải trong chăn nuôi vịt, đặc biệt trong phương thức chăn nuôi vịt rtuyền thống, hầu hết nông dân các vùng sử dụng thóc là thức ăn duy nhất để nuôi vịt, các thức ăn khác (mồi) phần lớn do vịt tự kiếm. Hiện nay trong chăn nuôi vịt thâm canh, thóc cũng được sử dụng như là một trong những thức ănnăng lượng chính. Năng lượng trao đổi của thóc là 2.630 – 2.8600 Kcal/kg ứng với 11-12 MrJ/kg chất thô. Tỷ lệ protein trung bình 7,8-8,7%, mỡ 1,2-3,5%, xơ 10-12%. Trong thóc hàm lượng lizin, acginin, tryptophan cao hơn ngô. Hàm lượng của phần lớn các nguyên tố khoáng (đa lượng và vi lượng) trong thóc rất thấp.

 + Ngô

Ngô là nguồn thức ăn giàu năng lượng. Năng lượng trao đổi của ngô 3100-3200 Kcal ứng với 13-13,5 MJ/kg vật chất khô. Hàm lượng protein 8-12%, trung bình là 9%, hàm lượng xơ thô rất thấp, 4-6%, cao hơn tỷ lệ mở trung bình của các thức ăn năng lượng. Hàm lượng mỡ cao của ngô vừa là đặc điểm tốt vừa là trở ngại khi sử dụng bởi hàm lượng mỡ cao làm cho ngô nghiền rất dễ bị ôi, mất vị ngon, hoặc làm cho ngô nóng lên, nấm dễ dàng phát triển làm giảm giá trị dinh dưỡngvà xuất hiện độc tốt Aflatoxin. Ngoài ra ngô rất nghèo khoáng như canxi (0,45%), mangan (7,3%/kg)…

– Ẩm độ trong ngô cao, biến đổi từ 8% (đối với ngô già) đến 35% (đối với ngô non). Các giống ngô này ngắn ngày chứa độ ẩm cao hơn các giống ngô dài ngày. Ngô có ẩm độ trên 15% không bảo quản được lâu, độ ẩm cao cũng làm giảm giá trị ding dưỡng của ngô.

 + Cao lương

Cao lương là loại cây vùng nhiệt đới trồng lấy hạt làm thức ăn cho gia cầm rất tột Hạt cao lương có hàm lượng protein cao hơn ngô song các thành phần dinh dưỡng khác thấp hơn ngô, tuy nhiên vẫn cao hơn thóc.Giá trị sinh học của protein trong hạt cao lương thấp hơn ngô, thóc và gạo. Protein thô 11-12%, mỡ 3,0-3,1%, xơ 3,1-3,2%, dẫn xuất không đạm 70-80%, năng lượng trao đổi 3000 Kcal ững với 12,61 MJ/kg chất thô.

 + Kê

Giá trị nuôi dưỡng của kê bằng khoảng 95% ngô trắng, hạt kê thiếu vitamin A, ptotein thô 10-11%, mỡ 2,3-2,7%, xơ 2,2-13,1%. Năng lượng trao đổi từ 2667-3192 Kcal ứng với 11,2-13,4 MJ/kg vật chất khô. Trong khẩu phần, vịt con có thể dùng tới 44%. Do kích thước hạt kê nhỏ hơn hạt thóc, ngô, cao lương nên kê dùng trong khẩu phần của vịt dò, vịt đẻ đều không cần nghiền.

Trong chăn nuôi vịt, cám gạo được sử dụng phổ biến nhất. Ngoài ra còn có sắn, khoai các loại.

 2. Thức ăn protein

Trong khẩu phần của vịt, khối lượng thức ăn năng lượng thường chiếm khoảng 70%. Do đó thức ăn protein chiềm không quá 30%. Thức ăn protein  được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu về protein và nâng cao giá trị sinh học cho khẩu phần. Thức ăn protein được khai thác từ hai nguồn.

– Protein thực vật

Gồm các loai cây họ đậu và khô dầu: Đỗ tương, đỗ xanh, lạc, khô dầu đỗ tương, khô dầu lạc. Đặc điểm nổi bật của chúng là giàu protein và các axit amin không thay thế. Protein đậu đỗ dễ hoà tan trong nước và giàu lizin nên dễ tiêu hoá, hấp thu. Hàm lượng cãni, magiê, mangan, đồng trong đậu đỗ cũng cao hơn hạt hoà thảo, nhưng nghèo photpho. Khác với các loại hoà thảo. phần lớn các loại bộ đậu đều có độc tố vì vậy khi sử dụng làm thức ăn cho gia cầm nói chung và vịt nói riêng cần phải xử lý, chế biến làm giảm độc tố và nâng cao giá trị dinh dưỡng của chúng.

 + Đỗ  tương

Đỗ tương là loại thức ăn giàu protein 38-43%, mỡ 16-18%, năng lượng trao đổi 3600-3700 Kcal ứng với 15-16 MJ/kg vật chất thô. Gía trị sinh học của protein của đỗ tương cao, tương đương protein động vật, giàu axit amin nhất là lizi và triptophan. Tuy nhiên, khi sử dụng đỗ tương phải chú ý đến các tác nhân kháng dinh dưỡng (ức chế tripsin) có trong đó. Để hạn chế tác hại các độc tố cơ thể dùng biện pháp xử lỹ nhiệt như rang đỗ tương hoặc hấp chính. Những chất chứa trong hạt đỗ tương chưa xử lý có thể tác động mạnh mẽ lên đường ruột và làm ảnh hưởng khả năng tiêu hoá  và sử dụng nhiều chất dinh dưỡng. Khi sử dụng một lượng nhỏ đỗ tương chưa xử lý trong khẩu phần của vịt, tốc độ tăng trọng bị giảm sút rõ rệt, tuyến tuỵ bị sưng to, hấp thu mỡ ở vịt co giảm, năng lượng trao đổi của các thành phần khác trong khẩu phần cũng giảm sút.

Đỗ tương sau khi ép dầu tạo thành khô dầu đỗ tương, sử dụng tốt hơn đỗ hạt. Vì khi ép dầu tách mỡ phải xử lý bằng nhiệt, đã phân huỷ và làm mất hiệu lực của các độc tố kháng tripsin và heamagglutinin.

 + Lạc

Lạc nhiều dầu mỡ: 38-40% trong lạc và vỏ, 48-50% trong lạc nhân. Sử dụng phụ của lạc sau khi ép dầu là dầu khô. Dầu lạc được sử dụng như là một nguồn thức ăn protein trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm. Hàm lượng protein 30-32% trong khô dầu cả vỏ, 45-50% trong khô dầu lạc nhân, tỷ lệ xương tương ứng là 27,2 và 5,7%. Gía trị sinh học của protein trong lạc khô và dầu lạc thấp hơn khô dầu đậu tương, bột cá vì nghèo lizin. Do đó, khi dùng khô dầu lạc làm thức ăn protein phải chú ý bổ sung thức ăn giàu lizin như đỗ tương, bột cá hoặc chế phẩm lizin.

Tuy nhiên, khi ẩm độ của khô dầu lên trên 15% khô lạc dễ bị mốc, nấm mốc phát triển làm giảm  chất lượng khô dầu và tiết nhiều độc tố mycotoxin nhất là aflatoxin rất có hại cho vịt.

– Protein động vật

Gồm các sản phẩm chế biến từ động vật: Bột cá, bột tôm. bột thịt, bột máu…đây là nguồn thức ăn giàu protein, có đủ axit amin không thay thế, các nguyên tố khoáng và nhiều vitamin quý.

 + Bột cá

Bột cá là nguồn thức ăn protein tuyệt vời chứa đầy đủ tất cả axit amin cần thiết, đặc biệt là lizin và metionin. Thành phần dinh dưỡng trong bột cá phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu. Bột cá  chế biến từ đầu, vây, ruột cá hoặc từ cá ướp muối, giá trị ding dưỡng thấp hơn cá nhạt nguyên con. Bột cá sản xuất ở nước ta có hàm lượng protein 31-60%, khoáng  19,6-34,5%, photpho 3,5-4,8%. Hệ số tiêu hoá bột cá cao (85-90%). Bột cá nguyên liệu đắt tiền, để đảm bảo giá thành của khẩu phần, cần tính toán sử dụng một tỷ lệ hợp lý.

 + Bột đầu tôm

Được chế biến từ đấu, càng, vỏ tôm là nguồn protein động vật giàu các nguyên tố khoáng, có giá trị trong chăn nuôi vịt, đặc biệt là vịt đẻ. Thành phần dinh dưỡng và giá trị sinh học protein của bột tôm khá cao nhưng không bằng bột cá và bột máu. Trong bột đầu tôm có 33-34% protein, trong đó có 4-5% lizin, 2,7% metionin, giàu canxi, photpho, các khoáng vi lượng và chất màu.

Điều đáng quan tâm  là bột đầu tôm có giá trị dinh dưỡng cao, thích hợp , thuận tiện trong việc sử dụng cho vịt. Tuy nhiên lượng sử dụng tối đa trong khẩu phần cũng chỉ là 10%.

Thảo luận cho bài: Thức Ăn Hỗn Hợp Dành Cho Vịt – Phần 1

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *